Theo kịch bản sẽ có 11 tham luận trình bày tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII. Tuy nhiên do thời gian hạn hẹp, Đoàn chủ tịch cho phép 6 tham luận được trình bày tại Đại hội. Tổ phóng viên Báo Bình Định lược ghi dưới đây một số ý kiến tham luận của các đại biểu.
|
|
Các đại biểu biểu quyết thông qua các chương trình Đại hội. Ảnh: Văn Lưu |
ĐẠI BIỂU THÁI NGỌC BÍCH (Đoàn đại biểu Đảng bộ TP Quy Nhơn):
Phát triển TP Quy Nhơn thành trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ, văn hóa của tỉnh và tiểu vùng
Với tinh thần “Quy Nhơn vì cả tỉnh, cả tỉnh vì Quy Nhơn”, Đảng bộ và nhân dân TP Quy Nhơn xác định nhiệm vụ tập trung xây dựng và phát triển TP Quy Nhơn trở thành trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ và văn hóa của tỉnh; đồng thời là đô thị trung tâm động lực phát triển vùng Duyên hải Nam Trung bộ, với nhiều giải pháp chủ yếu như sau:
Trên lĩnh vực kinh tế:
- Tập trung cùng các ngành của tỉnh thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hút các nhà đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ở KKT Nhơn Hội, KCN Phú Tài, Long Mỹ để trở thành động lực phát triển cho Quy Nhơn và cả tỉnh.
- Phát huy lợi thế biển và sự đa dạng về địa lý, địa hình của Quy Nhơn trong việc xây dựng, phát triển kinh tế biển, phát triển du lịch và dịch vụ - thương mại; đặc biệt là mở rộng phát triển cảng biển đáp ứng nhu cầu giao thương hàng hóa trong nước và quốc tế.
- Xây dựng chương trình phát triển ngành thủy sản cả về nuôi trồng, đánh bắt và chế biến. Khuyến khích ngư dân phát triển tàu thuyền có công suất lớn đánh bắt xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo; từng bước di chuyển các hộ ngư dân và số tàu thuyền còn lại ra khỏi khu vực trước biển Khu 2 dọc theo tuyến đường Xuân Diệu; quy hoạch vùng nuôi đảm bảo phát triển hài hòa với du lịch và bảo vệ môi trường.
- Phát triển ngành du lịch cả về cơ sở lưu trú đa dạng, phong phú, loại hình du lịch, các tour, tuyến, nhất là các khu vui chơi, giải trí, mua sắm, nghỉ dưỡng...
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, gắn với ứng dụng tiến bộ KHKT, tăng hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị canh tác; xây dựng chương trình phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn.
Trên lĩnh vực đô thị:
- Phối hợp với Sở Xây dựng và các sở, ngành của tỉnh tiến hành điều chỉnh quy hoạch chung TP Quy Nhơn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo hướng mở rộng địa giới hành chính, mở rộng không gian đô thị đã được xác định tại Quyết định 54/2009/QĐ-TTg ngày 14.4.2009 của Thủ tướng Chính phủ.
- Xây dựng chiến lược phát triển đô thị bền vững, phù hợp với từng giai đoạn nhưng đảm bảo kết nối giữa trước mắt và lâu dài.
- Tập trung cải tạo, chỉnh trang các khu đô thị cũ nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống ở các khu dân cư ven đầm, ven núi, người có thu nhập thấp; đồng thời, quy hoạch, xây dựng các khu đô thị mới theo hướng văn minh, hiện đại.
- Đầu tư xây dựng, phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đường điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải, nhất là hạ tầng giao thông.
- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả.
- Ban hành các quy chế quản lý quy hoạch, quản lý kiến trúc, quản lý đô thị, giải quyết tốt các yêu cầu của tổ chức, cá nhân và thực hiện quản lý đô thị đi vào nề nếp, trật tự…
Để thực hiện tốt những nội dung trên, Thành ủy, UBND thành phố xây dựng các chương trình hành động cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh và Đại hội XII của thành phố Quy Nhơn…
ĐẠI BIỂU ĐINH MINH TẤN (Đoàn đại biểu Đảng bộ huyện An Lão):
Giải pháp nào thúc đẩy phát triển KT-XH miền núi?
Theo tôi, trước hết phải chú trọng công tác quy hoạch KT-XH tổng thể qua từng giai đoạn và quy hoạch chi tiết cho từng vùng, vì đây là những căn cứ khoa học cho lãnh đạo quản lý vĩ mô nền kinh tế của huyện, thông qua các công trình trọng điểm, các dự án ưu tiên đầu tư, các kế hoạch 5 năm và hàng năm.
Đẩy mạnh CNH-HĐH nông thôn, gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, giao đất khoán rừng, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Phát huy thế mạnh của miền núi là đất lâm nghiệp và lượng mưa trung bình hàng năm cao để đẩy mạnh việc phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, gia trại, kinh tế hợp tác theo hướng nông lâm kết hợp.
Thực hiện các giải pháp đồng bộ để phát triển tiểu thủ công nghiệp, khôi phục ngành nghề truyền thống và dịch vụ chế biến nông lâm thủy sản gắn với các vùng nguyên liệu sẵn có tại địa phương; đầu tư cải tạo lưới điện chống sụt áp để phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế gắn với quy hoạch và phát triển các vùng trọng điểm.
Đầu tư đúng hướng và thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án chính sách phát triển KT-XH miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Tiếp tục thực hiện các chính sách đối với đồng bào DTTS theo Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị; thực hiện có hiệu quả việc lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia với các dự án phát triển để tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn miền núi có điều kiện phát triển nhanh kinh tế hộ gia đình, giải quyết tốt vấn đề đất ở và sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn. Cần coi trọng việc phát huy ý thức tự giác vươn lên của từng hộ dân trong sản xuất và tổ chức cuộc sống; quy hoạch bố trí đất ở, đất sản xuất gắn với định hướng phát triển cơ sở hạ tầng của thôn bản; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chỉ đạo sản xuất, tổ chức đời sống cho cán bộ xã, nhất là đối với cán bộ thôn, xem thôn là đơn vị cơ bản tổ chức sản xuất và là đơn vị xã hội để hỗ trợ đầu tư, chỉ đạo và xây dựng các mô hình.
Ngoài việc tiếp tục đầu tư có trọng điểm cho miền núi phát triển, phát huy tính tự lực tự cường khuyến khích đồng bào DTTS làm giàu, khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp lên miền núi đầu tư kèm theo các ràng buộc tạo thu nhập cho người lao động tại chỗ; chú trọng đầu tư giáo dục, nâng cao dân trí, cần nghiên cứu các chính sách giao đất, khoán rừng phù hợp kết hợp với phát triển kinh tế bền vững, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống…
ĐẠI BIỂU PHAN THANH LIÊM (Đoàn đại biểu Đảng bộ huyện Hoài Ân):
Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là phong trào rộng lớn và mang tính xã hội hóa sâu sắc, đem lại hiệu quả KT-XH thiết thực. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng và toàn xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Hoài Ân lần thứ XXIII (nhiệm kỳ 2010 -2015) xác định: Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Tập trung xây dựng làng, cơ quan, đơn vị xã - thị trấn văn hóa; phấn đấu đến năm 2015 có 60% xã – thị trấn, trên 65% làng, 90% cơ quan và trên 95% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa. Để thực hiện đạt tiêu chuẩn trên, chúng tôi đã đề ra một số giải pháp như sau:
Về lãnh đạo, chỉ đạo: Gắn chặt việc xây dựng hệ thống chính trị với xây dựng đời sống văn hóa, coi đó là mối quan hệ tương tác xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ, đoàn thể vững mạnh và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển bền vững. Củng cố mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đoàn thể, các địa phương trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện phong trào. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội, coi trọng vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội ở từng địa bàn dân cư. Tập trung củng cố và nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, coi đây là yếu tố nền tảng để tạo lập môi trường văn hóa tiến bộ ở địa phương.
Về tuyên truyền, giáo dục, vận động: Nâng cao nhận thức, mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” bằng nhiều hình thức. Tích cực vận động già làng, người có uy tín ở cộng đồng dân cư tham gia tuyên truyền và thực hiện phong trào. Hàng năm, thông tin rộng rãi đến mọi người dân, mọi cơ quan, đơn vị, trường học, xã - thị trấn về kết quả đạt được, những hạn chế trong việc xây dựng phong trào, biểu dương, phê phán và tạo sự đồng thuận cao trong việc tham gia xây dựng đời sống văn hóa, tạo bước chuyển mạnh mẽ về lượng và chất của phong trào.
Về tổ chức: Củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo, Ban vận động từ huyện đến cơ sở, đảm bảo đủ năng lực hoạt động, từng bước đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động. Xây dựng đầu mối và xác định cơ chế phối hợp của phong trào; phân loại cơ sở Đảng; đánh giá công tác xây dựng chính quyền; xếp loại hội, đoàn thể gắn với bình xét các danh hiệu văn hóa, đặc biệt là khâu kiểm tra, đánh giá, bình xét, phân loại và công nhận các danh hiệu văn hóa sát đúng, dân chủ, khách quan, phù hợp để phát triển phong trào bền vững.
Về đổi mới phương thức hoạt động: Thông qua tổ chức các hoạt động, các mô hình văn hóa tiêu biểu để tạo động lực thúc đẩy phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên diện rộng và cả chiều sâu, như các hoạt động: Ngày vì người nghèo, xóa nhà ở đơn sơ, xây dựng cảnh quan môi trường, góp ý tham gia xây dựng chính quyền… để nâng cao ý thức cộng đồng, phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và là điều kiện để thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở.
Về xã hội hóa phong trào:
Huy động các nguồn lực Nha nước, các thành phần kinh tế và trong nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng, các thiết chế văn hóa phục vụ dân sinh; chỉ đạo xây dựng các mô hình điểm về tinh thần đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, như gia đình không có người sinh con thứ ba, không vi phạm pháp luật, khu dân cư thực hiện nếp sống văn minh trong tiệc cưới, việc tang, lễ hội, không để xảy ra tệ nạn xã hội…
Về nguồn kinh phí: Hiện nay, mỗi khu dân cư hàng năm được hỗ trợ 1 triệu đồng/1 khu dân cư. Song thực tế chưa đảm bảo cho hoạt động… Do vậy, huyện đã chỉ đạo các địa phương hỗ trợ nâng mức đầu tư kinh phí, đáp ứng các nhu cầu cần thiết để thực hiện phong trào.
ĐẠI BIỂU NGUYỄN TUẤN THANH (Đoàn đại biểu Đảng bộ khối Các cơ quan tỉnh):
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
Công tác giáo dục của Đoàn tiếp tục được đổi mới với nhiều nội dung, hình thức phong phú, qua đó đã vận động và tổ chức cho đông đảo cán bộ, đoàn viên thanh niên (ĐVTN) tham gia các sinh hoạt chính trị, sinh hoạt truyền thống như: Tiến bước dưới cờ Đảng, Tuổi trẻ Bình Định với tư tưởng Hồ Chí Minh, Tiếp lửa truyền thống - mãi mãi tuổi 20, Âm vang Điện Biên, Thắp nến tri ân, học tập quán triệt các nghị quyết của Đảng, Đoàn; tổ chức thường xuyên các hoạt động nói chuyện truyền thống, gặp gỡ nhân chứng lịch sử, về nguồn, liên hoan nhóm tuyên truyền ca khúc cách mạng, biểu dương điển hình tiên tiến... đã góp phần giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang của dân tộc, của Đảng, của Đoàn, nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cho thanh thiếu nhi.
Cuộc vận động Tuổi trẻ Bình Định học tập và làm theo lời Bác được triển khai sâu rộng trong thời gian qua đã có tác dụng tích cực và tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của ĐVTN.
... Mặc dù công tác đoàn kết, tập hợp, giáo dục, rèn luyện và phát huy vai trò thanh niên ở tỉnh ta trong những năm qua đã có sự chuyển biến tích cực hơn, tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt tồn tại, yếu kém và bất cập. Đặc biệt, thời kỳ mới đặt ra cho công tác thanh niên nhiều khó khăn và thách thức mới. Vì vậy chúng tôi xin đề xuất một số vấn đề cụ thể sau:
- Tiếp tục quán triệt nâng cao trách nhiệm và đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác thanh niên. Trong đó, các cấp ủy Đảng cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo, triển khai có hiệu quả Nghị quyết 25 Hội nghị lần thứ 7, BCH Trung ương Đảng (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” gắn với chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Quy chế cán bộ Đoàn.
- Các cấp chính quyền, các ngành, đoàn thể trong tỉnh quán triệt, thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thanh niên thành các chương trình hành động, cơ chế, chính sách thiết thực nhằm đầu tư, hỗ trợ phát triển các hoạt động Đoàn và phong trào thanh niên.
- Các cấp bộ Đoàn - Hội cần phải chủ động phối hợp làm tốt những nhiệm vụ cụ thể như: giáo dục chính trị tư tưởng, lý tưởng cách mạng cho thanh niên; tạo môi trường thuận lợi để thanh niên học tập, lập nghiệp và cống hiến; chủ động tham mưu làm tốt hơn nữa công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn các cấp; đa dạng hóa các loại hình tập hợp thanh niên, nhất là các đối tượng thanh niên đặc thù, làm tốt công tác Đoàn tham gia xây dựng Đảng.
|